Máy thổi khí con sò Perotac hai tầng cánh
Bản hai tầng cánh có hai buồng cánh nối tiếp nhau: khí ra khỏi buồng một đi thẳng vào buồng hai, áp được cộng dồn qua hai tầng. Nhờ vậy máy cùng cỡ vẫn thắng được cột nước sâu hơn. Công suất đang có tại kho 0,55 – 5,5 kW, model ví dụ GB-3000S/2 3 kW · GB-4000S/2 4 kW · GB-5500S/2 5,5 kW.
Dấu /2 trong tên chính là số tầng cánh
Đây là chi tiết đọc mã hữu ích nhất của dòng con sò: model kết thúc bằng /2 là bản hai tầng. Không có phần này là bản một tầng. Chỉ cần nhìn tên máy là biết mình đang cầm bản áp cao hay bản lưu lượng lớn.
Khi nào cần hai tầng
Khi áp cần vượt khả năng bản một tầng. Áp cần tính theo độ sâu ngập đĩa thổi: mỗi mét nước tương đương khoảng 10 KPa, cộng thêm 15 – 20% tổn thất trên ống và đĩa. Bể càng sâu, con số này càng lớn.
Nơi đang dùng bản hai tầng
- Bể hiếu khí sâu trong hệ xử lý nước thải công nghiệp.
- Bể chứa sâu, hầm chứa cần sục chống lắng.
- Hệ thống có đường ống khí dài, tổn thất lớn nên cần dư áp.
- Ao nuôi sâu, hệ sục đáy.
- Bồn phản ứng, bồn tuyển nổi có mực nước cao.
Đừng dùng dư áp như một cách "cho chắc"
Máy hai tầng chạy trên hệ nông sẽ hoạt động ở vùng áp thấp so với thiết kế — vừa lãng phí điện vừa không tận dụng được gì. Bể nông cần nhiều khí thì bản một tầng đúng bài hơn, và cũng có sẵn cỡ công suất lớn hơn.
Áp là thứ phải đo, không phải ước
Nên lắp đồng hồ áp trên đường khí ngay sau máy. Áp thực tế tăng dần theo thời gian là dấu hiệu đĩa thổi bị bám cặn. Nếu để nguyên, máy sẽ chạy quá áp danh định — nguyên nhân cháy phổ biến nhất của dòng con sò. Một chiếc đồng hồ áp rẻ tiền phòng được đúng lỗi đắt tiền đó.
Quy trình chọn
- Đo độ sâu ngập đĩa thổi — con số quan trọng nhất với bản hai tầng.
- Tính áp cần = độ sâu (m) × 10 KPa + 15 – 20% tổn thất.
- Tính lưu lượng khí = 0,8 – 1,2 m³ khí / m³ nước thải / giờ + dự phòng 15 – 20%.
- Đối chiếu: nếu áp cần nằm ngoài tầm bản một tầng thì chọn bản hai tầng có lưu lượng đủ.
- Kiểm tra đường ống khí — ống nhỏ hoặc dài quá làm tổn thất tăng, phải cộng thêm vào áp cần.
Ví dụ tính
Bể sâu, đĩa ngập 4,5 m: áp cần ≈ 4,5 × 10 = 45 KPa, cộng tổn thất 20% thành khoảng 54 KPa. Với mức áp này, bản hai tầng cánh là lựa chọn hợp lý.
Lắp đặt và vận hành
- Đặt nơi thoáng, có mái che, không nhốt máy trong hộc kín.
- Van an toàn đặt đúng ngưỡng áp danh định của máy.
- Vệ sinh lọc gió định kỳ và kiểm tra đĩa thổi trong bể.
- Bệ đặt phẳng, có đệm cao su giảm rung truyền xuống sàn.
Mua hàng
Hàng Đài Loan bảo hành 1 năm, có CO CQ và hoá đơn VAT. Hàng sẵn kho, đơn chốt trong ngày giao trong ngày.
Gửi độ sâu bể, số đĩa thổi và sơ đồ ống khí qua Zalo 0964 329 898.
Hai tầng cánh dùng khi nào
Máy con sò hai tầng cánh cho áp cao hơn ở cùng mức công suất, dùng khi ống phân phối khí ngập sâu hơn hoặc đường ống dẫn khí dài, nhiều co cút gây tổn thất.
Đây cũng là lựa chọn khi bể hiếu khí đã cải tạo sâu thêm mà vẫn giữ máy cũ một tầng cánh — biểu hiện thường gặp là bọt khí thưa dần ở giữa bể trong khi máy vẫn chạy đủ giờ và dòng điện bình thường.
So sánh với một tầng cánh
Cùng công suất, hai tầng cánh cho áp cao hơn nhưng lưu lượng khí thấp hơn. Vì vậy không phải cứ chọn hai tầng cánh là tốt hơn — bể nông mà dùng hai tầng cánh thì thừa áp, thiếu lưu lượng và tốn điện hơn.
Cách chọn đúng: đo độ sâu ngập ống phân phối khí trước, rồi mới chọn nhóm. Anh chị báo con số này kèm thể tích bể và số giờ chạy mỗi ngày để bên em chọn giúp.
Lắp đặt và bảo dưỡng
Ống ra phải đủ tiết diện, không bóp nhỏ. Dùng khớp mềm giữa máy và ống cứng để triệt rung, tránh nứt mối hàn theo thời gian. Trên đường đẩy cần van an toàn và van một chiều.
Vệ sinh lọc gió định kỳ và giữ phòng máy thoáng. Với máy hai tầng cánh làm việc ở áp cao hơn, nhiệt sinh ra nhiều hơn nên yêu cầu thông gió của phòng máy càng phải chú ý.
Chuẩn bị gì khi hỏi hàng
Bốn thông tin: thể tích bể, chiều cao từ mặt nước xuống tới ống phân phối khí, chiều dài tuyến ống dẫn khí và số giờ máy chạy mỗi ngày. Tuyến ống dài nhiều co cút cũng ăn mất một phần áp nên cần tính vào, đây là chi tiết hay bị bỏ qua khi chọn máy hai tầng cánh.